HAI MÓN QUÀ TỪ NHÀ VĂN DOÃN QUỐC SỸ
(Được tách ra từ bài Vài Kỷ Niệm Với Ca Sĩ Duy Trác)
Một Buổi Đọc Thơ Đặc Biệt
Một hôm có việc cần gặp anh Phạm Chí Thành (cũng là bạn anh Khuất Duy Trác) ở ngã tư Hồng Thập Tự - Lê Văn Duyệt mà không thấy anh ở nhà tôi bèn đạp xe thẳng ra nhà anh Trác ở gần đấy tìm anh. (Anh Thành và anh Trác là bạn tù của tôi ở 2 trại Z30D và A20). Không thấy anh Thành nhưng anh Trác đã đon đả mời tôi vào nhà.
“Sao? Chiều Thứ Bảy tuần này có bận gì không? Tôi định rủ ông đến nhà anh Sỹ chơi. Có cả Nguyễn Hữu Nhật ở đấy. Hai thi sĩ tha hồ mà đọc thơ”.
Anh đã bóng gió nói chuyện này với tôi từ lâu nhưng có lẽ tuần này mới tiện dịp. Tôi trả lời:
“Hôm ấy định ra Chợ Lớn nhận ít hàng cho bà chị, nhưng không gấp. Có chuyện vui chơi thì để hôm sau cũng đưọc”.
Tôi đến nhà anh Trác khoảng1giờ trưa Thứ Bảy. Thư thả uống trà một lúc rồi hai anh em hai chiếc xe đạp ra đường Cộng Hòa (Nguyễn Văn Cừ), qua Đại Học Khoa Học một đoạn rồi rẽ phải. Nhà anh Sỹ ở trong một con hẻm rộng trên đường này, đường An Dương Vương.
Đến nơi, một người đứng tuổi, dáng vẻ trí thức, mặt phúc hậu, ra cửa đón vào. Trong nhà đã có một người nữa đứng cạnh bàn. Anh Trác lịch thiệp giới thiệu và mọi người vui vẻ bắt tay nhau.
Người đứng tuổi là nhà văn Doãn Quốc Sỹ (sinh năm 1923), người kia trẻ hơn là nhà thơ Nguyễn Hữu Nhật (1942), chồng nhà văn Nguyễn Thị Vinh (em gái Nguyễn Tường Tam, thành viên trẻ tuổi nhất của Tự Lực Văn Đoàn). Bên cạnh anh Trác (1936), tôi trẻ nhất (1952) – năm đó (1984) mới 32 cái xuân xanh.
Anh Sỹ mời mọi người ngồi và rót trà tiếp đãi rất lịch sự. Sau vài phút thăm hỏi xã giao là phần diễn đọc thơ. Anh Nhật được coi là người nhà (thơ của anh đã rất quen thuộc với nhóm văn nghệ sĩ quen biết anh Sỹ) nên anh Sỹ mời anh mở đầu chương trình. Anh Nhật nhắp một hớp trà rồi bắt đầu đọc bài thơ HOA CÚC VÀNG
HOA CÚC VÀNG
Chỗ anh đứng chờ em ra
Bây giờ thiên hạ trồng hoa cúc vàng
Mỗi lần có dịp đi ngang
Nhớ em anh tưởng áo vàng lụa bay
Nghĩ hoài sống mũi cay cay
Mấy năm chẳng được một ngày gần nhau
Hạnh phúc thường hay qua mau
Vắng nhau thì thấy ở đâu cũng buồn
Tự dưng thương ghế thương bàn
Nơi em đã để cho làn hương rơi
Anh muốn kêu lên em ơi
Nhớ gì nhớ đến chết người như không
Tay vò hoa cúc nát lòng
Vàng phai hay ý chờ mong nhạt dần.
(Bài thơ này đã được anh Đinh Văn Trang phổ nhạc tại trại Thanh Cẩm vào năm 1979)
Đây là tâm tình của anh trong những tháng năm cải tạo xa cách vợ hiền. Anh Trác đã kể tôi nghe về chuyện tình của anh Nhật với chị Vinh - chị hơn anh 18 tuổi. Ở thời điểm ấy – Nàng ra đời trước Chàng từng ấy năm - kể cũng hơi khác thường.
Nhưng phải công nhận tình yêu và nỗi nhớ thương của anh với người tình đậm đà, sâu sắc, lãng mạn và rất Thơ – nghe rất khoái. Chờ một lát cho chất tình, chất lãng mạn, chất Thơ thấm vào hồn khán giả, anh Nhật nhắp một hớp trà nữa rồi đọc tiếp một bài thơ ngắn 4 câu:
Một ngày không thấy mặt nhau
Đã như phát ốm phát đau một ngày
Xa nhau đã mấy năm nay
Mình không bỏ mạng là may lắm rồi
Như đã nói ở trên, chị hơn anh 18 tuổi nên nghe đoạn thơ rất sâu sắc, đậm tính lãng mạn đó, anh Sỹ, anh Trác và cả tôi đều cười thích thú.
Đến đây anh Sỹ nhìn tôi thân thiện nói:
Nghe anh Trác kể thơ anh Nhì được anh em trong trại cải tạo rất ưa thích. Nhân dịp này cho chúng tôi nghe vài bài nhé.
Tôi cũng cầm ly nhấp một hớp trà thấm giọng rồi tự giới thiệu và đọc bài thơ HẸN MỘT NGÀY MAI. Tôi viết bài này ở phân trại E cuối năm 1981, lúc mới bước qua tuổi 30.
HẸN MỘT NGÀY MAI
Ai chẳng muốn có một mái nhà êm ấm
khi đã bước qua tuổi ba mươi
một cô vợ hiền lành duyên dáng
một hai đứa con kháu khỉnh tươi cười
Bắt tay vào xây dựng tương lai
trong muôn nghìn việc chung của quê hương dân tộc
ai chẳng có một đôi khoảnh khắc
nghĩ về những riêng tư
Tôi còn bà mẹ già
như ngọn đèn sắp tắt
mong đứa con trai từng giờ, từng phút
sớm trở về nhà lấy vợ, đẻ con
Mang trong lòng một hoài bão sắt son
“Bồi đắp vun trồng những mầm non nước Việt”
tôi cũng muốn mai đây trong cánh rừng tươi đẹp
có một, đôi cây mang vóc dáng của mình
ngạo nghễ giữa trời xanh
Nhưng hôm nay nghĩ đến chuyện gia đình
tôi như chạm phải vết thương nhức nhối
đất nước vẫn chìm trong đêm tối
lũ quỷ đỏ dã man vẫn đày đọa muôn dân
đường đấu tranh sẽ còn lắm gian nan
mà sự nghiệp chỉ đôi bàn tay trắng
Tôi biết mình chưa thể chu toàn bổn phận
làm chồng, làm cha khi chí vẫn tang bồng
vẫn chưa chồn chân lội suối băng rừng
vẫn đôi tay muốn ghì chặt súng
trên đầu tóc vẫn đang dựng đứng
mắt vẫn in rõ mặt quân thù
Và trái tim
vẫn hằng đêm
nhói đau trong ngực
khi xa xa vọng về tiếng khóc
của những bà mẹ già, những đứa trẻ thơ
Nên dù có lời hứa đợi chờ
của cô láng giềng tôi yêu tha thiết
dù mẹ tôi khao khát
mong cô con dâu, mong đứa cháu gọi bà
tôi vẫn lắc đầu và mỉm cười vu vơ
khi có người hỏi
“Sao chưa lấy vợ?”
Tôi mơ đến một khoảng trời rộng mở
có những đoàn quân
tiến về Sài Gòn
đòi lại quê hương đã mất
và hòa trong ào ào tiếng thét
“Tiến lên! Hãy tiến lên!”
có bóng tôi lao vút như tên.
Vâng. Đó là tâm sự của tôi – một thanh niên sắp “tam thập nhi lập” - nhưng hoàn cảnh trớ trêu, vẫn còn nằm trong trại cải tạo, chưa được ra đời thực hiện những ước mơ, xây dựng gia đình, tạo lập tương lai sự nghiệp.
Tứ thơ “nhất khí liền mạch”, âm điệu chảy thành dòng làm chỗ dựa cho cảm xúc cùng những mảnh tâm sự bám theo đi vào tâm hồn những người yêu thơ. Anh Sỹ đang gật gù như muốn nhờ năng lượng từ sự chuyển động của cái đầu đưa cảm xúc thấm sâu vào tâm hồn.
Không khí lặng đi một lúc lâu.
Rồi anh Sỹ ngẩng đầu lên nhìn tôi nhẹ nhàng “ra lệnh”:
Một bài nữa đi anh Nhì.
Tôi dùng vài phút kể lể sự tình:
Sau khi bị cùm kẹp đến liệt hai chân, bị đánh đập đến giập xương sống và rối loạn cơ tròn, không kiểm soát được đường tiểu tiện và đại tiện, tôi nằm chờ chết trong xà lim. Nhờ sự can thiệp tận tình của hai bác sĩ tù Trần Quý Nhiếp và Trần Văn Lịch, cộng thêm đề nghị của một phái đoàn Thanh Tra Y Tế Trung Ương, tôi được chuyển vào một bệnh xá nhỏ ở Phân Trại B, nơi giam giữ tù hình sự.
Tôi đã sống chung với đủ mọi loại tội phạm: Giết người, trộm cướp, hiếp dâm, lừa đảo, xì ke ma tuý v.v. Lúc ấy ở bệnh xá có khoảng 30 bệnh nhân, toàn là tù hình sự. Chỉ mình tôi “lạc loài”.
Rồi tôi bắt đầu đọc bài thơ
TÔI ĐÃ GẶP Ở ĐÂY
Tôi đến đây
trong một lần đi trốn
khi đang trong cuộc một trò chơi lớn
trò chơi đấu tranh
Nhìn quanh
tôi thấy toàn thú dữ
mắt tròn xoe đổ lửa
uống máu ăn thịt lẫn nhau
trong khi bên ngoài những lớp rào và những hào sâu
bầy quỷ sứ đứng canh ngả nghiêng cười khoái trá
Ở đây
một nắm rau dại một con sâu, con dế
lắm khi tàn tạ thân xác một con người
một mẩu tàn thuốc rơi
có thể làm máu đổ
Tử thần đang mừng rỡ
bước từng bước đến gần
những con người khốn khổ
họ không có gì chống đỡ
nên chỉ biết bán rẻ nhân cách của mình
biến thành những con vật đê hèn
ngụp lặn trong vũng bùn tội lỗi
May mắn thay
tôi đã gặp ở đây
ân tình đong thật đầy
của những người bạn mới
(giữa rừng cỏ dại quanh bờ suối
lác đác một hai khóm trúc đào)
Tôi quên sao được hương vị ngọt ngào
của cành hoa các anh trao giữa muôn nghìn cay đắng
đàng sau những vệt máu, những giọt mồ hôi, những tia nhìn thù hận
là màu xanh ước mơ
những nét nhạc, những vần thơ
khung trời quê hương, biển tình yêu và cuồn cuộn dâng nhựa sống
tâm hồn tôi như bay cao giữa trời gió lộng
dù xác thân vẫn trĩu nặng gông xiềng (1)
Tôi cũng gặp những đứa em
còn chút dáng người giữa bầy dã thú
đói thắt ruột và roi quất trên đầu, trên cổ
vẫn chẳng nỡ ăn thịt đồng loại của mình (ý nói không làm Ăng - ten)
tôi ôm các em vào lòng
thủ thỉ bên tai những lời thân ái
để các em quen dần tiếng nói
của loài người đã quên mất từ lâu
Tôi đã bị đẩy xuống tận đáy vực sâu
dù đường còn rất xa, và rất nhiều khó nhọc
vẫn cố trèo lên miệng vực
dù bọn quỷ sứ muốn biến tôi thành súc vật
trái tim tôi vẫn ăm ắp tình người
vẫn quay quắt nhớ người yêu
xa tít một phương trời
và vẫn niềm tin
ở một ngày mai.
Viết cuối năm 1982 ở Bệnh Xá Phân Trại B
Tôi cũng giải thích một chi tiết (coi như một chú thích) cho 2 câu thơ chữ màu đỏ để có sự thông cảm của khán giả:
Một ngày Chủ Nhật, được nghỉ lao động, có 2 em tù hình sự đến "cà kê dê ngỗng" kể chuyện tôi nghe. Số là cả 2 em đều ghiền thuốc nặng, lúc đang cuốc đất, thấy tên công an võ trang đứng gần đấy vứt cái tàn thuốc mới hút xong, cùng xông tới giành nhau. Đứa bị dộng báng súng lên ngực, chiều tối về phòng mới ói máu; đứa bị chân giầy đạp lên mặt, máu răng, máu miệng bê bết "giữa trận tiền". Một em vừa cười vừa nói với tôi: "Biết là ăn đòn nhưng ghiền quá chịu không nổi anh ơi!"
Đến đây anh Trác chen vào lên tếng mời anh Nhật đọc thơ tình để thay đổi không khí. Anh Nhật là tay đọc thơ chuyên nghiệp nên dù đã sẵn sàng vẫn chờ thêm khoảng một phút nữa để thu hút sự chú ý của khán giả. Rồi anh không giới thiệu mà, thật chậm rãi, đi thẳng vào bài thơ:
ÁO DÀI
Ngày nào mới mặc áo dài
Tay em run quá chẳng cài nổi khuy
Chuyện giờ kể có khác đi
Run run anh cởi hết khuy em cài
Ngày nào mới thở hương người
Em say ngây ngất rụng rời ngón tay
Chuyện giờ kể có khác đi
Tay em buông thõng mỗi khi nhớ người
Ngày nào anh cũng làm thơ
Dù em là chiếc gương mờ đã lâu
Trước khi đi ngủ, chải đầu
Ðể trong giấc mộng gặp nhau đàng hoàng
Ngày nào mắt ngọc xanh tình
Ðêm khuya anh nhớ dịu hiền mắt em
Chuyện giờ kể có khác đi
Mi xanh mắt ngọc bút chì tô quanh
Ngày nào mới mặc áo dài
Trông gương soi bóng tự cài lấy khuy
Chuyện giờ kể có khác đi
Không đem bán áo lấy gì nuôi nhau
Hai câu cuối của bài thơ còn có chút “hoàn cảnh xã hội”. Vào thời điểm đó cuộc sống của dân miền nam thiếu thốn, cơ cực quá nên bàn ghế tủ giường, tivi radio máy hát - tất tật mọi thứ - kể cả sách quý hiếm, quần áo đẹp (kỷ niệm) đều bị lôi ra bán để kiếm chút bỏ bụng cho đỡ đói.
Phải công nhận tình yêu của anh với vợ (chị Nguyễn Thị Vinh) đậm đà, sâu sắc, lãng mạn và rất Thơ.
Lâu lắm mới được nghe những lời thơ vừa đậm chất tình, vừa dễ thương, vừa đúng với cảnh đời (chứ không phải toàn những lời tuyên truyền) nên tôi cảm thấy lòng lâng lâng, khoan khoái.
Sau đó là giờ giải lao.
Chị con dâu của nhà văn Doãn Quốc Sỹ đem chè đậu xanh lên mời khách. Đến chỗ tôi chị đặt chén chè lên bàn rồi nhỏ nhẹ nói: “Cháu mời chú ăn chè”. Tôi giật nẩy mình. (Chị ít ra cũng hơn tôi vài tuổi). Tôi nhìn anh Sỹ đỏ mặt, ngượng ngùng. Nhưng nhà văn đáng tuổi cha chú tôi đã lịch thiệp lên tiếng:
Anh Nhì à! Anh Trác là bạn tôi. Anh là bạn anh Trác tức cũng là bạn tôi. Hơn nữa, chúng ta là nhà văn, nhà thơ – mà nhà văn, nhà thơ thì không có tuổi.
Cháu xưng hô với anh như vậy là đúng đấy. Anh đừng ngại.
Tôi bỗng nghĩ đến câu “Trong văn chương thì ‘gừng càng già càng cay’, nhưng cũng có khi ‘tài không đợi tuổi’”. Như vậy câu nói của anh Sỹ cũng có phần đúng của nó. Nhưng rồi cũng có câu “Hãy kính trọng người già khi bạn còn trẻ” rất hợp với truyền thống, lễ giáo, cách xưng hô, giao tiếp của người Việt Nam - theo tôi, cũng không nên coi thường. Bởi vậy cách xưng hô của chị con dâu có làm tôi áy náy đôi chút.
Tuy nhiên, “nhập gia tùy tục” nên tôi không có ý kiến gì thêm.
Ăn chè xong, chị châm thêm một bình trà mới và chương trình đọc thơ lại tiếp tục. Tôi và anh Nhật cứ xen kẽ nhau trổ tài. Tôi đọc 2 bài (HOA DẠI và VÌ THẾ TÔI RA ĐI), anh Nhật đọc tiếp 4 bài nữa. Khi tôi đọc xong bài VÌ THẾ TÔi RA ĐI thì ba vị khán giả yêu thơ lim dim mắt, gật gù như muốn thử tìm xem có chỗ nào có thể cảm thông với nỗi niềm tâm sự hơi lạ đời đó không. Chắc là cũng có đôi chút nên ngồi uống trà một lát, anh Sỹ lại nhìn tôi có vẻ thúc giục.
Anh Trác khuyến khích:
“Cứ chơi thoải mái đi ông Nhì”.
Và tôi đọc thêm bài thơ TẬP VẼ.
Bài này tôi cũng viết lúc đang nằm ở bệnh xá phân trại B.
Một em tù hình sự có học lại có hoa tay, vẽ đẹp nên được ưu tiên cho về đội nhà bếp để thỉnh thoảng vẽ cờ, hoa, khẩu hiệu trang trí cho phân trại. Em mến tôi và lúc bớt việc lại đến bệnh xá đề nghị tôi hát mấy bản nhạc vàng mà em ưa thích.
Một hôm em tâm sự là rất buồn, rất chán khi bị bắt buộc phải vẽ những hình, khẩu hiệu mà em “không có cảm tình”. Bài thơ ra đời trong khung cảnh ấy.
TẬP VẼ
Thuở bé thầy giáo thường khen em
có hoa tay, vẽ nhanh, vẽ đẹp
chỉ vài nét
là có hình người muông thú, cỏ hoa
Thế mà mấy năm qua
em luôn bị điểm 2 môn vẽ
chăm chỉ, miệt mài tính em vẫn thế
chứ có đâu biếng nhác, ươn hèn
Nhớ hôm vẽ cờ búa liềm
em đã ngắm kỹ từng đường cong nét thẳng
em cũng ướm thử từng đoạn dài đoạn ngắn
nhưng đến hết giờ
em vẽ cũng vẫn … sai
Đưa lưng cho thầy quất mấy roi
em ngỡ liềm cứa thịt da em rách
thước kẻ thầy đánh vào tay
em tưởng búa đập xương em dập nát
Một hôm khác
lớp em vẽ hình Lê- Nin
em hết nhìn thẳng lại nhìn nghiêng
để ý từ chòm râu, sóng mũi
Nhưng lạ chưa!
Lê – Nin của em vào cuối buổi
trông cứ như đang múa vuốt, nhe nanh
xem bài em thầy giáo giật mình
đánh em ngã lăn giữa lớp
Hôm vẽ Bác Hồ lòng em hồi hộp
thầy đứng bên em chẳng phút nào rời
thầy nhắc em Bác nhân đức yêu người
thầy sánh Bác với vua Hùng dựng nước
Em cố vẽ theo lời thầy nhưng không sao vẽ được
tay chén chè tàu tay ly rượu Vốt-Ka
Bác Hồ của em trông gian ác, điêu ngoa
em lại bị thêm trận đòn tím bầm thân thể
Bản đồ nước Việt Nam
một hôm em đang vẽ
này biển, này sông, này rừng núi, ruộng vườn
này những thành phố quê hương
em đặt hết tâm hồn vào trang giấy nhỏ
Thầy đứng sau lưng, cầm cây cọ đỏ
bôi kín tấm bản đồ tổ quốc em yêu
đỏ biển, đỏ sông, đỏ những đê điều
đỏ phố, đỏ phường
đỏ hết cả núi rừng, nương rẫy
Em bỏ ngôi trường làng ra đi từ dạo ấy
lang thang như một khách giang hồ
Ôi! Nhớ làm sao những lần tập vẽ ngày xưa
Ồ! Giá trường em giờ có thầy giáo mới
Em sẽ chạy về ngay
không để lỡ một ngày, một buổi
ngồi vào hàng ghế ngày xưa
thầy đang dậy những câu hát mẹ ru
còn em háo hức chờ đến giờ tập vẽ.
Lúc viết bài thơ này, dù còn đang bại liệt trong trại cải tạo, tôi đã mơ đến chuyện ra đi chứ không như ngày 29 tháng tư năm 1975:
Khi đoàn tàu chở đơn vị tôi
chuẩn bị rời Vũng Tàu hướng ra Đông Hải
thương cha mẹ già, đàn em dại
tôi bước lên bờ ở lại quê hương.
(Bờ Vẫn Quá Xa, Phạm Đức Nhì)
Bởi thông tin truyền vào qua thăm nuôi cho biết “sĩ quan cải tạo” trở về nếu không nhanh chóng tìm đường ra đi thì ở lại sẽ bị tước đoạt hết mọi cơ hội kiếm sống, sẽ chỉ là gánh nặng cho gia đình mà thôi.
Và đây cũng là bài cuối của chương trình. Khác mấy bài trước, bài này được 3 khán giả đón nhận nồng nhiệt.
Trong gần 3 tiếng đồng hồ thả hồn vào thơ, anh Nhật đọc 7 bài. Tôi đọc 5 bài. Thỉnh thoảng cũng có những “lời bình ngắn” rất uyên bác, điệu nghệ của anh Sỹ và anh Trác. Vì đây là bài viết về anh Trác nên tôi chỉ đưa vào 3 bài thơ của anh Nhật và 3 bài của tôi để độc giả có thể mường tượng ra phần nào khung cảnh, không khí của buổi đọc thơ. Mục đích chính của đoạn này là làm nổi bật vai trò “đạo diễn ngầm” của anh Trác.
(Độc giả có thể đọc 2 bài Hoa Dại và Vì Thế Tôi Ra Đi ở phần Chú Thích) (2)
Còn 4 bài khác nữa của anh Nhật, rất tiếc lâu quá, tôi đã quên.
Anh Nhật đọc thơ rất có duyên. Anh để ý “luyến láy” từng chữ, từng câu. Anh đọc thơ của chính mình, lại thuộc lòng, nên dễ dàng lột tả được những chỗ ý tứ sâu sắc, “chữ tình” đằm thắm, thiết tha. Cái thú khi nghe thơ anh Nhật là không phải “ngẫm” cũng có thể hiểu rồi cảm được ý tứ sâu sắc, cảm xúc dạt dào đằm thắm được gói ghém khéo léo trong những câu thơ có ngôn ngữ, hình tượng tỏa ra nét đẹp văn chương óng mượt.
Thơ tôi dễ đọc hơn. Bài thơ dài, nhất khí liền mạch và tôi đã thuộc như cháo nên khi đọc cứ thả hồn theo dòng chảy của tứ thơ, dòng cảm xúc và nhờ dòng âm diệu dẫn đưa về Bến Đỗ.
Một người đọc thơ, 3 người còn lại cũng lặng yên thả hồn vào từng chữ, từng câu. Phòng khách rộng rãi, thoáng mát nhưng cũng hoàn toàn im ắng như muốn cùng hòa điệu với những người thưởng thức thơ ca toàn tâm, toàn ý.
Trước khi chia tay anh Sỹ dặn tôi:
“Anh Nhì nhớ cho tôi mấy bài thơ để gởi cho các anh ấy ở bên kia nhé.”
Tôi chưa kịp “trao thơ” thì anh Sỹ, anh Trác và một số nhà văn, nhà thơ khác đã bị bắt trong vụ Những Tên Biệt Kích Cầm Bút. (Chuyển “thơ văn chống đối chế độ” từ trong nước ra hải ngoại) (3)
Gặp Lại Nhà Văn Doãn Quốc Sỹ
Giữa tháng 2 năm 2003 (chúng tôi đã qua Mỹ) anh Trác gọi điện thoại rủ tôi đi dự văn nghệ mừng Thượng Thọ 80 của nhà văn Doãn Quốc Sỹ. Buổi văn nghệ được tổ chức tại một hội trường lớn ở thành phố Houston. Anh Trác và tôi chọn hai chỗ sát lối đi ở bên trái khán đài, anh Sỹ cùng gia đình ngồi ở phía bên kia lối đi.
Chương trình văn nghệ bên cạnh “cây nhà lá vườn” tại Houston còn có vài ca sĩ từ xa đến chung vui. Người hát nhạc vàng trước 75, người hát nhạc mới sáng tác tại hải ngoại. Cũng có người đọc bài thơ “Mừng Bác 80” để chúc thọ nhà văn Doãn Quốc Sỹ. Không khí thật rộn ràng, vui vẻ. Được ngày nghỉ lên khu trung tâm thành phố chơi nên tôi thả hồn vào lời ca tiếng hát.
Bỗng MC cao giọng: “Để thay đổi không khí chúng tôi xin giới thiệu anh Phạm Đức Nhì. Anh sẽ đọc một bài thơ do chính anh sáng tác. Xin mời nhà thơ Phạm Đức Nhì”.
Hơi bị bất ngờ, tôi đứng dậy nhìn anh Trác thì thấy anh cười nói: “Ông cứ lên cho bà con thưởng thức một bài cho vui.” Thì ra anh đã “gài độ” trước.
Năm 1996, sau khi dự lễ khai mạc kỳ đài tại Houston, nhìn lá cờ vàng 3 sọc đỏ phất phới bay trong gió, cảm xúc dâng trào, tôi đã viết bài thơ LÁ CỜ CHÍNH NGHĨA. Thời gian đó chưa có Facebook, nhưng chỉ qua Emails bài thơ đã được loan truyền rộng rãi trên các diễn đàn. Lễ mừng thượng thọ nhà văn Doãn Quốc Sỹ - một người yêu tự do, đã bị chính quyền Cộng Sản bỏ tù – mà đọc bài thơ ấy thì rất hợp cảnh hợp tình.
Độc giả có thể đọc Lá Cờ Chính Nghĩa theo link sau đây:
https://thonhipham.blogspot.com/2025/10/la-co-chinh-nghia.html
Nhưng đứng trên khán đài nhìn anh Sỹ, rồi lại nhìn anh Trác ở bên kia lối đi giữa hội trường, kỷ niệm buổi đọc thơ 19 năm trước tại nhà anh Sỹ lại hiện về. Qua những “lời bình ngắn” ý nhị hôm ấy, tôi biết hai anh - đặc biệt là anh Sỹ - có lòng ưu ái với bài thơ TẬP VẼ của tôi. Thế là sau một chút lưỡng lự tôi đã quyết định đọc “bài thơ kỷ niệm” ấy.
Bài thơ được mọi người nhiệt tình tán thưởng, tiếng vỗ tay lớn và kéo dài rất lâu. Xuống khán đài về chỗ ngồi, lúc qua chỗ anh Sỹ, anh đứng lên kéo tôi lại gần rồi ghé sát tai tôi nói nhỏ:
“Tôi vẫn nhớ mấy bài thơ anh đọc năm nào tại nhà tôi. Riêng bài Tập Vẽ bây giờ nghe lại càng thấy thấm thía”.
Tôi chỉ biết đứng yên, miệng lí nhí “Cám ơn anh” nhưng trong đầu lại hiện ra khuôn mặt khả ái và nụ cười ý nhị của ca sĩ Duy Trác.
Hai Món Quà Quý Giá
Nhờ tài đạo diễn của anh Trác tôi có cơ hội tham dự một buổi đọc thơ đặc biệt. Và qua buổi đọc thơ đó tôi đã nhận được hai món quà quý giá từ anh Sỹ:
1/ Ngoài những lời bình tán sâu sắc, chân tình suốt 3 tiếng đồng hồ trong buổi đọc thơ anh còn dặn:
“Anh Nhì nhớ cho tôi mấy bài thơ để gởi cho các anh ấy ở bên kia nhé.”
2/ Từ tâm hồn cởi mở, phong cách phóng khoáng trong giao tiếp với bè bạn văn chương của anh Sỹ và đặc biệt là câu “Chúng ta là nhà văn, nhà thơ - mà nhà văn, nhà thơ thì không có tuổi” tôi đã có cái nhìn tự do hơn, khách quan hơn đối với các nhà văn, nhà thơ và tác phẩm của họ.
Tôi đã tìm tòi, học hỏi, nghiên cứu để tạo cho mình một nền tảng kiến thức lý luận văn học và khi nhận xét, đánh giá một bài thơ, một tác phẩm văn chương tôi chỉ dựa trên cái nền tảng kiến thức đó.
Kết quả là tôi đã tránh được một “thói xấu” trong phê bình: Coi trọng đến mức tôn thờ tác phẩm của các “cây cổ thụ văn chương” – không dám “đụng đến” những khuyết điểm, dù sờ sờ trước mắt, của họ - và ngược lại, coi thường đến mức bất công tác phẩm của những văn thi sĩ còn non trẻ.
Hai món quà quý giá từ nhà văn Doãn Quốc Sỹ tôi không giữ cho riêng mình mà đã hoan hỷ chia sẻ với tất cả những bạn đọc yêu thơ hữu duyên trên đường đời xuôi ngược. (4)
Xin cảm ơn nhà văn Doãn Quốc Sỹ, người tặng quà, và dĩ nhiên không thể quên ơn anh Khuất Duy Trác, người đã đạo diễn, sắp xếp giúp tôi có cơ hội để nhận lãnh hai món quà quý giá đó.
Chú Thích:
(1)
Thấy tôi thích ca hát, vững nhạc lý, lại làm thơ và có chút ít hiểu biết về văn chương, các bạn tù hình sự có máu mặt (nắm giữ các chức vụ quan trọng ở trong trại) lại cũng yêu thơ, thích nhạc thỉnh thoảng đem thơ nhạc của họ đến nhờ tôi nhận xét, sửa chữa.
(2)
Sau đây là 2 bài thơ Hoa Dại và Vì Thế Tôi Ra Đi
HOA DẠI
(Tâm sự một nhà thơ)
Tôi là loài hoa dại
mọc bên đường
tỏa sắc hương
dịu lòng những ông bố trên đường đến xưởng
những bà mẹ đi thăm ruộng
trở về
Tôi thêm nét vui tươi cho cô gái quê
xách làn đi chợ
các cô cậu học trò mặt mày hớn hở
cười với tôi mỗi buổi đến trường
Tôi đứng đây
mở lòng đón gió bốn phương
để thêm sắc thêm hương
cho người đời thêm đẹp dạ
Bạn đừng tưởng đời tôi êm ả
như mặt nước hồ
tôi đã bao phen nghiêng ngả
trước những trận gió to
Có lúc thân tôi xác xơ
tả tơi từng cánh
lá rụng phấn bay lịm dần trong đêm lạnh
nhưng nghĩ đến ngày mai tôi gượng dậy mỉm cười
Tuy nhiên
nếu lúc này bạn ngỏ ý mời tôi
đến một ngôi nhà sang trọng
dành cho tôi chỗ ngồi ấm cúng
có kẻ chăm lo trẩy lá tỉa cành
tôi vẫn lắc đầu nhìn dưới chân mình
mảnh đất nhỏ tôi vô cùng yêu mến
Tôi sống
không phải để riêng ai âu yếm
sắc hương này
tôi muốn sẻ chia
cho tất cả mọi người từ em bé ngây thơ
đến các cụ già trăm tuổi
Và nếu nơi đây
nước dâng bão nổi
tấm thân này tan nát cuốn muôn nơi
tôi vẫn vui bởi phấn nhụy của tôi
sẽ mọc lên trăm ngàn cây hoa mới
Bệnh Xá B 1983
Đây là bài thơ tôi viết sau môt chuyến vượt biên hụt. Thuyền vừa rời điểm tập trung được một đoạn thì bị lộ, phải quay vào. Tôi và thằng em trai út may mắn chạy thoát. Phần chính của bài thơ được viết lúc nằm chờ đợi trên thuyền. Phần còn lại được hoàn tất sau đó khoảng 2 tuần.
Bước chân xuống thuyền
coi như ngồi vào chiếu bạc
một còn một mất
tôi đặt cả cuộc đời mình
Có thể lát nữa đây tôi sẽ lênh đênh
trên biển cả
hướng về một bến bờ xa lạ
tìm lại cuộc đời
Cũng có thể chỉ lát nữa đây thôi
tôi sẽ thấy mình nằm trong ngục tối
chân bị cùm, tay bị trói
bắt đầu chuỗi ngày tra tấn tù đày
Nhưng tôi tin con người có rủi, có may
tôi cũng tin người ngay
trời không nỡ phụ
nên nhìn lại lần cuối
những đường xưa, phố cũ
tôi bước đi
lòng xao xuyến, bồi hồi
Ôi! Tổ quốc bất hạnh của tôi
giải đất hình chữ S
mà trên ấy tôi yêu tha thiết
từng nắm đất, ngọn cỏ, con người
đến những dòng sông lững lờ trôi
bảo sao lúc thuyền ra khơi
tôi chẳng rơi nước mắt
Giá ngay ở đây
tôi được cầm súng
một còn, một mất
với quân thù
thì dù ở bên kia trái đất
phú quý vinh hoa tôi vẫn chối từ
Ngày mai trên đất nước tự do
nếu có ai hỏi
“Cần giúp đỡ gì?“ tôi sẽ nói:
“Hãy cho tôi một chỗ đứng trong đoàn quân
tiến về Sài Gòn”
Bút của tôi chưa mòn
tôi cũng một thời cầm súng
thì tôi sẽ xông vào chiến trận
với cả hai thứ vũ khí trên tay
Trước mắt tôi
giữa trời Sài Gòn phất phới bay
cờ vàng ba sọc đỏ
có bao người thân mặt mày rạng rỡ
đứng đón tôi về
Và tôi lại buông súng
viết tiếp những vần thơ
ngợi ca cuộc sống.
Bài thơ hoàn tất lúc tôi mới hơn 31 tuổi, đầy nhiệt huyết, lý tưởng và yêu đời nên đoạn kết rất lãng mạn, tứ thơ bồng bềnh như đang theo gió, theo mây. Bây giờ, 40 năm sau, đọc lại thấy có vẻ quá mơ mộng, không thực tế, nhưng ở thời điểm ấy tâm hồn tôi là như thế.
(3)
Còn tôi mấy tháng sau cũng bị bắt ở Bến Lức, Long An vì tội vượt biên. Trong khi bị “tập trung cải tạo” ở Nhơn Hoà Lập thì được công an thành phố HCM đến “đón” về traị giam Phan Đăng Lưu, Gia Định. Lý do: Trong thời gian ở A20, một bạn tù hỏi xin và tôi có chép bài thơ Từ Ngục Tù Cộng Sản cho anh đem về. Ít lâu sau anh vượt biên bị bắt cùng với bài thơ và bị xử 12 năm tù.
Anh không khai gì để tổn hại đến tôi, nhưng một thời gian sau nữa có ăng - ten khai báo và công an truy xét nét chữ đã tìm ra tôi. Mấy cán bộ công an bắt tôi phân tích và “bình” bài thơ của mình suốt 6 tháng trời. Cứ đến chỗ đụng chạm đến chế độ tôi lại bị hạch sách đủ điều. Có vài lần còn bị công an võ trang len lén đến tát vào mặt, đấm vào lưng vì đã xúc phạm đến Bác Hồ.
Vũ Văn Ánh, người sáng lập và chủ biên tờ Hợp Đoàn, sau khi kết cung đã “lên đài” nói với tôi (hét to trực tiếp từ xà lim này qua xà lim kia):
“Chắc không đến nỗi ‘dựa cột’ (tử hình) như Tạ Vinh đâu; nhưng lịch thì chở cả (xe) GMC cũng không hết”.
Tuy nhiên, khi ông Nguyễn Văn Linh lên nắm quyền với chủ trương cởi mở chính trị, những người liên quan đến vụ Hợp Đoàn ở A20, vụ của nhà văn Doãn Quốc Sỹ, ca sĩ Duy Trác … và cả tôi đều được thả về. Tôi về sau các anh vài tháng.
(4) Tôi đã cho "hai món quà" thấm nhập vào những bài thơ, những bài mang tính phê bình tôi viết những năm sau này.
Comments
Post a Comment